Tin kũ

Khám phá động Thủy tại Ngũ động bản Ôn - Kì 2

Không rực rỡ như những hang động ở vịnh Hạ Long, càng không quy mô như Phong Nha Kẻ Bàng, động Thủy tại Ngũ động bản Ôn (Mộc Châu) quyến rũ du khách bằng sự bí ẩn.

(Kì 1: Ngũ động bản Ôn: Chút thiêng độc của rừng)

Theo chân người hướng dẫn bản địa, chúng tôi men theo con đường mòn dẫn lên động. Một bên, dây leo của cây rừng từ những vách đá rủ xuống, bên kia, những cành xanh từ vực núi vươn lên, đón ánh nắng tạo thành một cổng vòm thiên nhiên đón chào du khách.

Hay ở chỗ, cổng vòm đó được bàn tay của núi rừng thiết kế và chăm sóc nên nó khác biệt hoàn toàn với những cổng vòm nhân tạo. Vị thần rừng đã thổi vào lối đi đó một chút hơi lạnh, hơi ẩm của đại ngàn, đã đổ một màu xanh thẫm, pha chút nâu, xám… lên con đường đi. Thiên nhiên và con người hô ứng. Con đường đó, cổng vòm đó với những câu chuyện liêu trai từ người hướng dẫn bản địa đã tạo nên một lực hút vô hình thôi thúc chúng tôi khám phá động.

Lối vào hang động rất nhỏ, chỉ đủ một người chui vào. Bên ngoài là những biển cảnh báo không đốt vàng mã.

Lối vào hang động rất nhỏ, chỉ đủ một người chui vào. Bên ngoài là những biển cảnh báo không đốt vàng mã.

Vừa đếm nhịp chân theo tiếng thở dốc của người bạn đồng hành, vừa “hành quân” theo sự hùng hồn của nhịp điệu câu chuyện, sau ít phút ngắn ngủi, chúng tôi đã đứng trước cửa động.

Khác hoàn toàn so với tưởng tượng của bản thân, cửa động nhỏ chỉ một người chui vào một. Bên trong động vô cùng tối, chỉ có một vài tia sáng chiếu vào càng làm tô đậm thêm sự tăm tối của không gian. Anh hướng dẫn bản địa nhanh chóng “mất hút” khiến chúng tôi có một vài giây "hú hồn". Sau tiếng nổ bình bịch của máy phát điện, khoảng vài giây sau, anh đã xuất hiện cùng hai chiếc đèn pin và một… bóng điện xoắn rồi dẫn chúng tôi khám phá động Thủy.

Động Thủy được nhìn từ cửa động.

Động Thủy được nhìn từ cửa động.

Đúng như lời của anh hướng dẫn, động này đã từng là một không gian mê tín. Bên ngoài là những tấm biển cấm thắp hương, đốt vàng mã được viết một cách thô mộc như những lời ngăn cản tưởng chừng như bất lực. Bên trong, những vết ám của khói hương vẫn còn phảng phất trên vách đá, nhũ đá. Ngay gần cửa động vẫn còn một vài ban thờ nhỏ.Thờ bác Hồ, thờ Mẫu, thờ thần…

Có rất nhiều bàn thờ nhỏ bên trong động.

Có rất nhiều bàn thờ nhỏ bên trong động.

Cửa động nhỏ xíu, chỉ một người chui lọt nhưng khi vào trong lại rộng và cao vô cùng. Giống như một căn nhà rông, để bước lên nhà, chúng ta phải leo cầu thang gỗ. Động Thủy cũng vậy. Nó cũng có một khoảng “sân” khá rộng để tiếp đón du khách. Nhưng để khám phá động, chúng tôi phải “mạo hiểm” leo lên một chiếc thang gỗ nhỏ để “lên lầu”. Gọi là “mạo hiểm” bởi cầu thang khá trơn vì bị bám bùn đất, lại dựng trên một mặt phẳng đầy lồi lõm, thiếu sự thăng bằng. Tất cả du khách đều phải leo cầu thang trong tư thế “bò”. Tức phải khum người để giữ thăng bằng, một tay lần bậc cầu thang, tay kia bám vào sợi dây được căng ở ngay bên cạnh.

Những

Những "cột trụ trời" trong động.

Nhiệt độ trong động và bên ngoài chênh lệch khá nhiều. Chúng tôi đang quen với sự hanh, lạnh của vùng núi Tây Bắc thì khi vào động, lại được tiếp xúc với không khí ấm và ẩm. Anh hướng dẫn bảo rằng những động này “lạ” lắm. Mùa hè vào đây thì mát lạnh. Còn mùa đông thì ấm cúng. Như bật điều hòa vậy.

"Thác nước" đá vôi trong động.

Lần theo “con đường đèn leo lét”, chúng tôi đi sâu vào trong hang động. Mũ, áo, găng tay, khăn dần được cởi ra theo từng bước chân.

Giống như hàng ngàn hang động đá vôi khác, động Thủy cũng có những thạch nhũ, khối đá kì vĩ, đồ sộ. Kèm theo sự tưởng tượng phong phú của con người, dần dà, những khối nhũ đó, những kết tinh của phân tử đá vôi đó được thổi vào một hình dáng, một tâm hồn mà càng ngày nó càng giống những đặc trưng tên gọi của nó.

Động được chia làm nhiều “phòng” – theo lời của anh hướng dẫn. Mỗi phòng được ngăn cách với nhau bằng một bậu cửa đá vôi.

“Phòng” đầu tiên chúng tôi bước vào là một căn phòng với khá nhiều nhũ đá đồ sộ. Theo lời anh hướng dẫn thì những nhũ đá đó là những “cột trụ trời”, những thác nước, những bức tường của lâu đài. Tôi đã bị choáng ngợp bởi sự quy mô của những công trình thiên nhiên đó.

Căn phòng thứ hai lại “khiêm tốn” hơn với những con vật đặc trưng của rừng núi, thân thiện với người dân tộc (sư tử, rùa, vịt, gà…) hay những bào thai, những đứa trẻ thôi nôi, bộ não (đặc trưng cho con người). Đặc biệt hơn, bàn tay của thiên nhiên thật khéo léo khi tạc một bức tượng Phật bà Quan Âm đứng trên cao tất cả và nhìn xuống mọi sinh vật. Nó đúng như quy luật, vị trí trong tam giới vậy.

Cây cầu Nại Hà - tượng trưng cho sự kết thúc và khởi đầu mới của một kiếp người.

Cây cầu Nại Hà - tượng trưng cho sự kết thúc và khởi đầu mới của một kiếp người.

Càng vào sâu, hang động càng khiến chúng tôi bất ngờ. Những “công trình” đồ sộ của nước, của các tinh thể đá vôi khiến chúng tôi phải mắt tròn mắt dẹt, phải chiêm bái sự khéo léo cũng như gợi tình, gợi ý của con tạo. Một đời người được động Thủy miêu tả ngắn gọn qua hai hình ảnh: Bào thai và cây cầu Nại Hà.

Không chỉ gợi hình, gợi ý mà động Thủy còn gợi âm. Không gian trong động không chỉ là không gian khám phá mà còn là không gian văn hóa khi tất cả những đặc trưng của núi rừng Tây Bắc đều quy tụ về đây.

Thiên nhiên nơi này không chỉ là một kĩ sư giỏi mà ngài còn là một kẻ yêu âm nhạc đến mê đắm. Anh hướng dẫn nói rằng một số nhũ đá ở đây khi vỗ, khi gõ vào, đều tạo ra âm thanh tương tự với những chiếc đàn, cồng chiêng của người dân tộc. Nhưng tôi lại nghĩ rằng âm thanh phát ra từ những chiếc đàn “nhân tạo” chỉ là mô phỏng lại âm thanh của “tự nhiên”. Vì những nhũ đá kia, không biết nó đã có từ bao đời…

Chày và cối - biểu tượng của văn hóa phồn thưc.

Chày và cối - biểu tượng của văn hóa phồn thưc.

Tình yêu luôn là thứ bí ẩn, là thứ được khát khao mãnh liệt nhất nên căn phòng cuối cùng – cũng là căn phòng rộng nhất được người dân trìu mến gọi tên là căn phòng tình yêu.

Lại là những hình ảnh vô cùng gợi, những hiện tượng thiên nhiên vô cùng khó lí giải…

Hình ảnh cái chày, cái cối – tượng trưng của văn hóa phồn thực được khéo léo xếp cạnh nhau ở góc căn phòng. Kèm theo hai hình ảnh đó là những tác phẩm điêu khắc bằng đá vôi hình hai người trai gái ôm nhau do nghệ nhân “Thiên Nhiên” sáng tạo.

Đặc biệt hơn, ở góc cuối căn phòng còn có một hồ nước hình trái tim. Gọi là hồ nước vì anh hướng dẫn chú thích thế. Còn thực chất, “hồ” chỉ to bằng nửa mâm cơm, sâu độ nửa gang tay. Quan sát thấy nước không nhỏ từ trên xuống, cũng không phát hiện được khe nước từ đâu chảy ra nhưng anh hướng dẫn khẳng định rằng “hồ” này có nước quanh năm, không bao giờ cạn. Kể cả người dân có thử tát hết nước ra nhưng chỉ trong tích tắc, nước lại dồi dào trở lại.

Có lẽ đó cũng là một đặc trưng của tình yêu. Tình yêu là một thứ mơ hồ, khó giải thích. Chúng ta không thể giải thích rằng tình yêu bắt nguồn từ đâu, nó được nuôi dưỡng bởi cái gì… Mà chúng ta chỉ có thể khẳng định rằng nó là thứ vô tận, không bao giờ có hồi kết.

“Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau”

Bảo Trang/NĐT

Theo người đưa tin